Về chiến lược "Miền Trung trỗi dậy" |
|
Tại Hội nghị công tác kinh tế Trung ương ngày 5/12/2004, lần đầu tiên Trung Quốc coi chiến lược “miền Trung trỗi dậy” là một trong 6 nhiệm vụ kinh tế quan trọng trong năm 2005. Sau đó, tại kỳ họp Lưỡng hội năm 2005, các giới trong xã hội đặc biệt chú ý quan tâm đến chủ đề quan trọng và vấn đề nóng bỏng này.
|
|
1 - Thực trạng của “miền Trung sụp đổ”. Khu vực miền Trung gồm 6 tỉnh nội địa gồm Sơn Tây, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, An Huy và Giang Tây, với tổng dân số 361 triệu người, chiếm 28,1% dân số cả nước. Trong đó, dân số nông dân là 244 triệu người, chiếm 31,2% dân số nông dân toàn quốc. a) Tổng lượng kinh tế và trình độ phát triển của khu vực miền Trung không chỉ cách xa với khu vực miền Đông, mà còn cách xa với mức bình quân của cả nước. Theo số liệu thống kê, từ 1980 - 2003, tỷ trọng tổng lượng kinh tế của miền Đông từ chiếm 50,2%, tăng lên chiếm 58,86% tổng lượng kinh tế toàn quốc, nhất là sau thập kỷ 90 của TK 20, tăng 7 điểm. Trong khi đó, vai trò của miền Trung trong phạm vi kinh tế toàn quốc ngày càng giảm. Ví dụ như GDP bình quân đầu người năm 1980 tương đương với 88% bình quân cả nước, năm 1990 giảm xuống còn 83% và đến năm 2003 tiếp tục giảm xuống còn 75%. Chênh lệch GDP giữa miền Đông và miền Trung nới rộng 6 lần. Về thu nhập của cư dân: Năm 2002, bình quân thu nhập của miền Trung thấp hơn bình quân cả nước 1.369 NDT, thấp hơn miền Tây 138 NDT. Năm 2003, chênh lệch thu nhập giữa cư dân thành thị và nông thôn khu vực miền Trung là 2,9:1, trong đó chênh lệch cao nhất toàn quốc là tỉnh Giang Tây 5,18:1. Trong tốp 10 tỉnh (Tp, khu tự trị) bình quân thu nhập cư dân thành thị đứng đầu toàn quốc, khu vực miền Tây có 2 tỉnh, trong khi đó khu vực miền Trung không có tỉnh nào. b) Xu thế và tốc độ phát triển của miền Trung không chỉ thấp hơn khu vực duyên hải miền Đông rõ rệt, mà còn thấp hơn cả khu vực miền Tây. Từ khi Đại khai phát miền Tây, tăng trưởng đầu tư của miền Trung vốn tụt hậu hơn miền Tây, nay càng tụt hậu hơn rất nhiều. Năm 1998, đầu tư tài sản cố định xã hội của khu vực miền Tây tăng 31,2%, cao hơn khu vực miền Trung 16,8%. Từ tháng 1 - 7/2001, đầu tư của khu vực miền Tây tăng 20,1%, cao hơn khu vực miền Trung 2,5%. Miền Trung trở thành khu vực đầu tư tài sản cố định thấp nhất toàn quốc. c) Tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thị trường hóa (“tam hóa”) của khu vực miền Trung không chỉ tụt hậu so với khu vực duyên hải miền Đông phát triển, mà còn thấp hơn mức bình quân của cả nước. Giá trị gia tăng công nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 45% GDP, trong đó chỉ tiêu chung toàn quốc là 52,2%. Khu vực miền Trung thiếu thành phố thực lực tổng hợp có khả năng lôi kéo kinh tế tăng trưởng. Trong số các thành phố trung tâm của khu vực miền Trung không có thành phố nào xếp vào danh sách tốp 10 thành phố có sức cạnh tranh mạnh nhất toàn quốc. Chuyển hướng dân số nông thôn và chuyển dịch lao động vào thành phố và phi nông nghiệp của khu vực miền Trung chậm chạp. Năm 2003, tỷ lệ lao động nông nghiệp của 6 tỉnh khu vực miền Trung cao hơn mức bình quân cả nước 5 điểm. Tình trạng phát triển kinh tế phi công hữu là nội dung quan trọng của tiến trình thị trường hóa, quy mô phát triển kinh tế phi công hữu chiếm tỷ trọng tổng lượng kinh tế phản ánh một trong những chỉ tiêu quan trọng của tiến trình thị trường hóa, nhưng chỉ tiêu này của miền Trung thấp hơn mức bình quân cả nước và thấp hơn khu vực duyên hải miền Đông rất nhiều. Khu vực kinh tế phi công hữu chiếm 73,2% số việc làm ở khu vực thành thị trên cả nước, trong khi khu vực miền Trung chỉ chiếm 52%. Xét từ góc độ khác, tiến trình “tam hóa” của miền Trung còn khoảng cách rất xa so với mức bình quân cả nước, đặc biệt là so với khu vực duyên hải miền Đông. 2 - Nguyên nhân dẫn đến “miền Trung sụp đổ”. Đánh giá chính xác nguyên nhân và tính chất “miền Trung sụp đổ” là tiền đề lý luận chế định chiến lược “miền Trung trỗi dậy”. Nguyên nhân dẫn đến “miền Trung sụp đổ” rất phức tạp và đa tầng nấc, tức là phải xem xét từ chính bản thân khu vực để đánh giá đúng thực trạng tình hình. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, môi trường phát triển kinh tế bên ngoài thay đổi rất lớn, chủ yếu lấy mậu dịch quốc tế và tự do hóa đầu tư quốc tế, kinh tế thị trường hóa và thông tin hóa làm tiêu chí đánh giá tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu hóa. Trong bối cảnh quốc tế lớn, để nắm chắc cơ hội lịch sử kinh tế toàn cầu hóa và ứng phó với thách thức kinh tế toàn cầu hóa, chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng phải thay đổi tương ứng. Tức là phải chuyển đổi từ chiến lược phát triển đóng cửa, tự chủ và tài nguyên nội tại sang chiến lược phát triển mở cửa, hỗ trợ và tài nguyên từ bên ngoài; từ chiến lược phát triển bình quân tương đối sang chiến lược phát triển có ưu tiên trọng điểm; từ chiến lược phát triển ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang chiến lược phát triển ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ, thực hiện mục tiêu giàu có; từ chiến lược phát triển do chính phủ phân phối tài nguyên sang chiến lược phát triển lấy thị trường làm chủ thể trong phân phối tài nguyên.v.v.. Thực tế chứng minh, từ khi cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc đã lập nên “kỳ tích”, chỉ trong thời gian hơn 20 năm đã trở thành nước thương mại lớn thứ 3 thế giới và thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, “kỳ tích” của Trung Quốc cũng phải trả giá, chủ yếu biểu hiện mất cân bằng trong quá trình tăng trưởng cao. Mất cân bằng của Trung Quốc có thể khái quát “ba chênh lệch lớn” và “vấn đề nhị nguyên mới” tương đối nổi cộm. “Ba chênh lệch lớn” là chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, chênh lệch giữa các khu vực và chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. “Vấn đề nhị nguyên mới” là vấn đề phân biệt giữa thành thị và nông thôn, khác biệt về kinh tế và xã hội, như chế độ thuế, quản lý hộ tịch và cơ chế bảo hiểm xã hội. Khu vực miền Trung là khu kinh tế nông nghiệp chủ yếu nhất của Trung Quốc, sự chênh lệch và vấn đề nhị nguyên giữa thành thị và nông thôn đã làm cho “miền Trung sụp đổ”. Kinh tế khu vực miền Trung có đặc trưng cơ bản nhất là kinh tế theo mô hình hướng nội. Xét từ góc độ kinh tế khu vực, “miền Trung sụp đổ” là biểu hiện mất cân bằng trong phát triển kinh tế rõ nét nhất của Trung Quốc. Nguyên nhân dẫn đến “miền Trung sụp đổ”: Một là, môi trường phát triển bên trong và bên ngoài thay đổi to lớn, trong tình thế mới của cải cách mở cửa, khu vực miền Trung mất đi ưu thế phát triển sẵn có, bao gồm ưu thế ngành nghề, ưu thế vị trí địa lý, ưu thế thể chế, ưu thế văn hóa khu vực và ưu thế tài nguyên.v.v.. Hai là, do Trung Quốc thay đổi chiến lược phát triển, giành chính sách ưu đãi và lực lượng thị trường hóa tập trung cho khu vực duyên hải miền Đông. Khu vực miền Trung không chỉ bất lợi về phân công kinh tế khu vực và rơi vào tình thế bị động, mà còn bị mất mát về nhân tài, vốn và tài nguyên. Ba là, do tồn tại nghiêm trọng về ngành nghề, thể chế, nhất là quan niệm tư tưởng và tập quán văn hóa khu vực, dẫn đến động lực nội tại không đủ sức tạo nên ưu thế phát triển kinh tế. Bốn là, tiến trình đô thị hóa chậm chạp, nên khó khăn trong việc giải quyết cho nông dân vào thành phố làm việc. Vấn đề quyền sở hữu đất đai của nông dân chưa kiện toàn. Nông dân thiếu cơ bản về bảo đảm cung cấp sản phẩm công cộng. Tóm lại, “miền Trung sụp đổ” vừa là hiện tượng kinh tế mang tính toàn cục, vừa là hiện tượng mang tính cục bộ. Hiện tượng kinh tế mang tính cục bộ là trong bối cảnh môi trường phát triển kinh tế thay đổi to lớn, “miền Trung sụp đổ” biểu hiện rõ nét nhất là mất đi ưu thế mang tính khu vực và xuất hiện ràng buộc mang tính khu vực. Hiện tượng mang tính toàn cục, “miền Trung sụp đổ” chính là sự trả giá cho sự thành công trong chuyển đổi chiến lược phát triển và là vật tế thần lập nên “kỳ tích Trung Quốc” trong tiến trình cải cách mở cửa, đồng thời cũng có thể coi khu vực miền Trung là cống hiến hy sinh cho “kỳ tích Trung Quốc”. 3 - Tính nguy hại của “miền Trung sụp đổ”. Việc lấy “miền Trung sụp đổ” để đổi lại kinh tế tăng trưởng cao và trả giá chiến lược, dẫn đến tổng thể phát triển kinh tế mất cân bằng nghiêm trọng. Nếu “miền Trung sụp đổ” tiếp tục vượt qua giới hạn chịu đựng, không chỉ nguy hại nghiêm trọng đối với khu vực miền Trung, mà còn tổn hại đến tổng thể và toàn cục phát triển kinh tế của Trung Quốc. “Miền Trung sụp đổ” là trở ngại lớn đối với thực hiện mục tiêu phát triển tất cả cùng giàu và xây dựng xã hội hài hòa, đồng thời cũng làm cho khu vực miền Trung tụt hậu và mất cân bằng nghiêm trọng. Miền Trung tiếp tục sụp đổ sẽ nguy hại đến toàn cục phát triển kinh tế của Trung Quốc, chủ yếu là dẫn đến mất cân bằng trong phát triển kinh tế sẽ càng nghiêm trọng, “vấn đề nhị nguyên mới’ sẽ càng nổi cộm và hiệu suất phân phối tài nguyên trong phát triển kinh tế cũng sẽ sụt giảm. “Miền Trung sụp đổ” có thể dẫn đến “miền Trung trống rỗng”, trở thành thách thức nguy hiểm đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc, tổn hại đến tổng thể nền kinh tế và mất đi ưu thế nước lớn và quy mô thị trường của Trung Quốc. “Miền Trung trống rỗng” sẽ làm suy yếu sức cạnh tranh tổng hợp trong và ngoài nước của cả nước, dẫn đến làm suy yếu năng lực ngăn chặn rủi ro của toàn cầu hóa. 4 - Thúc đẩy hai chiến lược lớn và phương hướng chiến lược “miền Trung trỗi dậy”. a) Về tổng thể chiến lược “miền Trung trỗi dậy”: Kiên trì lấy quan điểm phát triển khoa học thống lĩnh phát triển kinh tế toàn cục, tiến hành điều chỉnh tổng thể phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay. Phát triển kinh tế của Trung Quốc đã bước vào giai đoạn phát triển mới, mất cân bằng trong phát triển kinh tế đã trở thành vấn đề khó khăn nhất, rủi ro nhất, nút cổ chai lớn nhất và thách thức lớn nhất đối phát triển kinh tế của Trung Quốc. Nhanh chóng giảm bớt hơn nữa tình trạng mất cân bằng và từng bước thu hẹp mất cân bằng trong phát triển kinh tế là nhiệm vụ khó khăn nhất và phức tạp nhất mà Trung Quốc phải nỗ lực giải quyết trong giai đoạn phát triển kinh tế 20 năm tới. Kiên trì lấy quan điểm phát triển khoa học thống lĩnh phát triển kinh tế toàn cục, tiến hành điều chỉnh tổng thể phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay, vừa là yêu cầu tổng thể của giai đoạn phát triển kinh tế mới, vừa là yêu cầu thúc đẩy và thực thi chiến lược “miền Trung trỗi dậy” của Trung Quốc. Phương hướng tổng thể của chiến lược “miền Trung trỗi dậy” chính là tiến hành điều chỉnh 4 lĩnh vực mang tính giai đoạn trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay: Thứ nhất, điều chỉnh từ chiến lược chú trọng mất cân bằng giữa các khu vực sang chiến lược chú trọng phát triển hài hòa giữa các khu vực. Thứ hai, điều chỉnh chiến lược phát triển từ chỉ dựa vào tài nguyên bên ngoài và quá trọng tâm nghiêng về bên ngoài (tổng kim ngạch thương mại năm 2004 tương đương với 70% GDP) sang chiến lược phát triển chú trọng cân bằng phát triển cả bên ngoài và bên trong. Thứ ba, điều chỉnh chiến lược phát triển từ chia cắt giữa thành thị và nông thôn, trọng thành thị coi nhẹ nông thôn, trọng công nghiệp coi nhẹ nông nghiệp sang chiến lược phát triển nhất thể hóa thành thị và nông thôn, thành thị lôi kéo nông thôn, công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp. Thứ tư, điều chỉnh chiến lược từ trọng đầu tư coi nhẹ tiêu dùng sang chiến lược phát triển coi trọng cả đầu tư và tiêu dùng. b) Phương hướng chiến lược “miền Trung trỗi dậy” mang tính khu vực: tập trung mọi nguồn lực, đột phá nút cổ chai, thực hiện chiến lược “miền Trung trỗi dậy” với tiêu chí kinh tế TQ “ cất cánh lần thứ 2”. Từ năm 1978 - 1997, phát triển của kinh tế Trung Quốc đã thực hiện tiêu chí “miền Đông cất cánh”. Đối với một đất nước 1,3 tỷ dân, nếu phát triển kinh tế mất cân bằng thì tổng thể nền kinh tế không thể cất cánh được. Do đó, kinh tế Trung Quốc phải thông qua 2 - 3 lần cất cánh cục bộ thì mới có thể cất cánh toàn diện. Về ý nghĩa, “miền Đông cất cánh” là “cất cánh đầu tiên”, “miền Trung trỗi dậy” là “cất cánh lần 2” của kinh tế Trung Quốc. Qua đó có thể thấy, liên quan đến chiến lược “miền Trung trỗi dậy” bao gồm nhiều động lực và nhiều hướng, tập trung vượt qua “hố ngăn cách”, đột phá nút cổ chai thúc đẩy kinh tế miền Trung cất cánh. Hiện thực chiến lược phát triển kinh tế khu vực miền Trung, có thể lựa chọn 3 trợ lực để đột phá: Một là, “trợ giúp tư bên ngoài”. Chính phủ Trung ương có thể thông qua chế định chính sách tương ứng, như khuyến khích đầu tư nước ngoài và chuyển dịch ngành nghề từ miền Đông sang miền Trung, chuyển các dự án xây dựng trọng điểm quốc gia từ khu vực duyên hải sang miền Trung. Đề ra kế hoạch đồng bộ nhằm phát triển thành thị và nông thôn, từng bước giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong cơ chế và chế độ giữa thành thị và nông thôn. Đẩy nhanh tốc độ và quy mô đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, kiên quyết ngăn chặn và xử lý tình trạng chiếm dụng đất của nông dân. Mở rộng toàn diện thị trường lưu thông lương thực và tăng cường hỗ trợ cho nông dân trực tiếp trồng cây lương thực. Hai là, khu vực miền Trung phấn đấu “tự mình bay lên”. Khu vực miền Trung có thể tự phát huy ưu thế về tài nguyên, nhân tài KHKT, vị trí thị trường.v.v.. lợi dụng quy mô các thành phố sẵn có ở khu vực, xây dựng ngành nghề chủ đạo thích ứng với giai đoạn phát triển kinh tế mới. Qua đó, thúc đẩy kinh tế phi công hữu phát triển, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Ba là, dựa vào cải cách mở cửa, tạo ra sức sống phát triển kinh tế mới. Khu vực miền Trung phải tập trung thúc đẩy sáng tạo chế độ cơ cấu và văn hóa, thúc đẩy tiến trình thị trường hóa, phát triển kinh tế phi công hữu, thẳng thắn cải cách bản thân chính phủ các địa phương, xây dựng cơ chế quản lý khoa học hợp lý và có hiệu quả, phát huy sức sáng tạo toàn xã hội, tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế miền Trung phát triển./. |
| Copyright by © 2005 Vietnam Ministry of Foreign Affairs - Office in HCM City Email: Banbientap@mofahcm.gov.vn |