Những ảnh hưởng đối với ngành tiền tệ ngân hàng
1. ảnh hưởng đối với hệ thống ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng của Trung Quốc hiện nay bao gồm ngân hàng thương nghiệp quốc hữu, ngân hàng thương nghiệp của các thành phần khác, ngân hàng thương nghiệp ở các thành thị và ngân hàng TW. Trong hệ thống ngân hàng này, đáng quan tâm nhất là những vấn đề của 4 ngân hàng thương nghiệp quốc hữu: Ngân hàng công thương, Ngân hàng nông nghiệp, Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng xây dựng (Công-Nông- Trung- Kiến).
Sau khi gia nhập WTO, cho dù 4 ngân hàng quốc hữu kể trên có mất đi phần lớn các khách hàng của mình thì cũng không thể phát sinh khủng hoảng về chi trả. Ngược lại, dịch vụ tiền tệ ở Trung Quốc sẽ ngày càng được cải thiện hơn. Vốn kinh doanh của 4 ngân hàng hiện nay rất lớn, mỗi ngân hàng có nguồn vốn không dưới 1000 tỷ NDT, hơn nữa các ngân hàng này đều thiết lập các quỹ dự phòng tiền vay và tiền gửi với lượng tiền tương đối đầy đủ, sẵn sàng chi trả cho khách hàng khi cần thiết. Sau khi mở cửa toàn diện về tiền tệ để được gia nhập WTO, các ngân hàng thương nghiệp Trung Quốc có thể cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng của nước ngoài, chỉ cần các ngân hàng Trung Quốc đảm bảo được lượng vốn đầy đủ thì hoàn toàn không phải lo lắng về nguy cơ khủng hoảng thanh toán. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương nghiệp quốc hữu này luôn nhận được sự chi viện cần thiết của ngân hàng TW, sự chi viện này có thể nói là vô hạn, điều này rất quan trọng, nó là đảm bảo chắc chắn nhất để Trung Quốc có thể tiến hành mở cửa toàn diện thị trường tiền tệ và ngân hàng.
Đương nhiên, mở cửa tiền tệ để gia nhập WTO tất yếu sẽ có ảnh hưởng tiêu cực:
1. Các ngân hàng Trung Quốc sẽ mất đi nhiều khách hàng quen thuộc, nếu không chú ý nâng cao chất lượng dịch vụ.
2. Trong 4 ngân hàng chính của Trung Quốc đang tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng như nhân viên dư thừa, kết cấu trùng lặp, tỷ trọng vốn không sinh lãi còn cao... Trong tương lai, khi mở cửa ngành ngân hàng, sẽ có nhiều ngân hàng nước ngoài nhảy vào thị trường Trung Quốc, rất có thể quy mô của 4 ngân hàng kể trên có thể bị thu gọn lại, nhiều nhân viên ngân hàng sẽ phải nghỉ việc.
3. Khi ngành tiền tệ được mở cửa một cách toàn diện, nếu các ngân hàng Trung Quốc không tăng độ công khai hoá về tiền tệ thì sẽ làm tích tụ ngày càng nhiều rủi ro về tiền tệ trong cơ cấu. Hiện nay, độ công khai về tiền tệ trong 4 ngân hàng trên rất thấp, hiện tượng số liệu giả, báo cáo giả tương đối phổ biến.
4. Sau khi gia nhập WTO, các ngân hàng Trung Quốc sẽ không tránh khỏi sự thất thoát nhân tài, sự chênh lệch về thu nhập cá nhân giữa ngân hàng Trung Quốc với ngân hàng của nước ngoài là rất lớn, điều này làm cho hàng loạt các nhân viên chủ chốt sẽ chuyển sang làm thuê cho các ngân hàng ngoài nước, hậu quả là sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các ngân hàng Trung Quốc.
5. Chế độ "phân ngành kinh doanh và phân ngành quản lý" của hệ thống ngân hàng Trung Quốc là trái ngược với xu thế chung của thế giới. Việc phân ngành để kinh doanh và quản lý trên thực tế đã làm hẹp phạm vi kinh doanh của các ngân hàng, rủi ro của các xí nghiệp quốc hữu vẫn chủ yếu tập trung vào các ngân hàng chuyên ngành. Sau khi gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài sẽ thiết lập chi nhánh ở Trung Quốc và đương nhiên phạm vi kinh doanh của các chi nhánh này sẽ rộng rãi hơn nhiều so với các ngân hàng Trung Quốc, đây rõ ràng là một điều kiện không thuận lợi cho ngân hàng Trung Quốc khi cạnh tranh với các ngân hàng ngoài nước.
II. ảnh hưởng đến thị trường vốn, thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối của Trung Quốc.
1. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc không những tăng về tổng lượng và sẽ có sự thay đổi về kết cấu, tỷ trọng đầu tư trực tiếp sẽ giảm, trong khi đó tỷ trọng đầu tư chứng khoán sẽ tăng lên. Theo dự đoán, lượng vốn nước ngoài chảy vào Trung Quốc trong 3 năm tới sẽ tăng gấp đôi trong đó phần lớn lượng tăng là nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán.
2. Về mặt tổng thể, việc mở cửa thị trường toàn diện sẽ có lợi cho việc phân bố tài nguyên và hiệu quả sử dụng tài nguyên, các xí nghiệp quốc hữu sẽ có nhiều cơ hội huy động vốn hơn để có thể thoát khỏi cảnh khó khăn hiện nay.
3. Mở cửa toàn diện thị trường tiền tệ sẽ đem lại nhiều khó khăn cho nghiệp vụ quản lý giám sát của nhà nước đối với thị trường chứng khoán do lượng vốn tư bản được lưu thông tự do trên thị trường. Nếu như chế độ tỷ giá hối đoái vẫn bị cột chặt không được nới lỏng và không thả nổi một cách linh hoạt thì dễ làm cho hiện tượng "đầu tư ăn chặn", đầu cơ ... có đất phát triển, đến một mức độ nào đó, sẽ làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư, nguồn vốn sẽ rút chạy hàng loạt và phát sinh khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng tiền tệ nổ ra ở Thái Lan, Braxin và Nga trong hai năm qua vẫn còn là bài học nhãn tiền đối với Trung Quốc.
4. Về thị trường cổ phiếu, trong số 900 công ty của Trung Quốc đã tiến hành bán cổ phiếu của mình trên thị trường thì có tới hơn 200 công ty đang tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng trong kinh doanh sản xuất. Sau khi đã mở cửa thị trường tiền tệ, dưới sự tác động của tư bản đầu cơ, sẽ xuất hiện hiện tượng phân hoá hai cực giữa giá cổ phiếu quốc hữu và cổ phiếu cá nhân, gây biến động lớn trên thị trường chứng khoán.
5. Trung Quốc gia nhập WTO buộc phải để cho cổ phiếu quốc hữu và cổ phiếu tập thể được tự do lưu thông. Khi đó rất có thể sẽ xuất hiện hiện tượng tư bản nước ngoài sẽ nắm quyền khống chế cổ phiếu đối với các xí nghiệp quốc hữu thông qua các biện pháp thu mua cổ phiếu. Kết quả có thể là: một số lĩnh vực trước đây do nhà nước độc quyền kiểm soát và có doanh lợi cao dần dần sẽ bị chuyển vào tay tư bản nước ngoài, Trung Quốc sẽ mất đi quyền khống chế cổ phiếu ở một số ngành nghề.
III.một số đối sách.
Trung Quốc đang trong giai đoạn quá độ để gia nhập WTO, trong giai đoạn này, cần phải chuẩn bị tốt một số phương diện sau:
1. Cải cách theo hướng xí nghiệp hoá các ngân hàng thương nghiệp quốc hữu phải có đột phá mới, cần phá bỏ mô hình nhà nước đầu tư 100% vốn cho ngân hàng quốc hữu, việc xử lý các khoản nợ khó thanh toán cần phải có hiệu quả thực tế.
2. Thực hiện các chuẩn mực công khai hoá, các cơ cấu tiền tệ cần thiết lập các chế độ tài vụ, thống kê, kiểm toán (thẩm kế),...theo các tiêu chuẩn quốc tế.
3. Trước khi mở cửa thị trường với nước ngoài, phải mở cửa đối với trong nước trước, để các xí nghiệp phi quốc hữu và các cá nhân có thể thiết lập một số cơ cấu tiền tệ mới.
4. Thực hiện thả lỏng lãi suất trước, thả lỏng chế độ tỷ giá hối đoái sau, để thị trường quyết định giá cả tiền tệ.
5. Từ sau năm 2000, mô hình quản lý tiền tệ nên chuyển từ chế độ phân ngành sang chế độ quản lý đa ngành nhằm nâng cao hiệu quả tiền tệ, thích ứng với điều kiện cạnh tranh mới trong tương lai.
6. Tạo dựng các thị trường huy động vốn trực tiếp đặc biệt nhanh chóng thiết lập các thị trường cổ phiếu cỡ nhỏ giành cho các xí nghiệp cỡ vừa và nhỏ.
7. Trong quá trình mở cửa từng bước, có thể áp dụng phương thức "lấy vốn đổi thị trường", các cơ cấu tiền tệ của Trung Quốc mua thêm cổ quyền của các nhà đầu tư để tăng lượng vốn.
8. Tăng cường pháp chế tiền tệ, quy phạm thị trường tiền tệ theo các luật chơi của kinh tế thị trường.
(Bài viết của tiến sĩ Vương Tùng Kỳ, trung tâm nghiên cứu tiền tệ thuộc viện khoa học xã hội Trung Quốc, đăng trên tạp chí "Bình luận kinh tế quốc tế" số 7-8 năm 1999).
Cập nhật 22-03-2010

