Những khó khăn của kinh tế Trung Quốc năm 2004 |
|
Thứ nhất, tăng trưởng đầu tư tồn tại nguy cơ tăng trở lại. Đến nay, xu thế mở rộng đầu tư mù quáng vẫn chưa được ngăn chặn triệt để, hiện tượng khởi công dự án mới vẫn gia tăng tương đối nhanh. Trong 3 quý đầu năm, tổng đầu tư xây dựng dự án đang thi công tăng 32,1% so với cùng kỳ năm ngoái, dự án đầu tư mới tăng 25,4%. Thứ hai, hậu quả xấu do đầu tư mù quáng một số ngành quá nóng bắt đầu lộ rõ. Lượng tồn kho sản phẩm công nghiệp gia tăng, một số ngành phải thu hẹp sản xuất và không có khả năng trả nợ, làm cho thiếu nợ giữa các doanh nghiệp ngày càng gia tăng, doanh nghiệp thiếu vốn lưu đồng trầm trọng, một số ngành mở rộng đầu mù quáng sản xuất kinh doanh khó khăn. Thứ ba, tồn tại vấn đề quá coi trọng thủ đoạn hành chính trong điều tiết vĩ mô, xuất hiện phản tác dụng. 2- Xu thế vật giá không xác định: Từ tháng 6 - 9/2004, trong 4 tháng liên tục vật giá đều tăng trên 5%. Trong đó, tăng nhiều nhất là giá lương thực và TLSX. Ngoài ra, theo dự kiến năm 2005 một số thành phố sẽ tiếp tục tăng giá than và giá điện, một số tình ven biển tăng giá nhân công… khiên nguy cơ tăng giá càng lớn hơn, nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). 3- Lương thực được mùa, nhưng vẫn mất cân bằng, cơ sở nông nghiệp chưa vững chắc, cơ chế có hiệu quả lâu dài vẫn chưa được xác lập: Năm 2004, tuy lương thực tăng sản và nông dân tăng thu, nhưng cơ sở hạ tầng nông nghiệp vẫn rất yếu và thiếu vốn sản xuất trầm trọng, cơ chế lưu thông lương thực chưa hoàn thiện, cơ chế ổn định giá lương thực vẫn chưa kiện toàn. 4- Năng lượng và nguyên liệu căng thẳng, ảnh hưởng lớn đến công nghiệp nặng hóa: Năm 2004, hơn 20 tỉnh, Tp thiếu điện trầm trọng, giá than tăng cao, nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới và vận tải chỉ đáp ứng 35%. đến nay, than, điện, dầu mỏ và vận tải thực sự trở thành nhân tố ràng buộc kinh tế phát triển. Do đó, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế, tăng cường công tác quy hoạch ngành năng lượng trở thành công tác trọng điểm của Trung Quốc trong những năm tới. 5- Tỷ trọng ngành dịch vụ quá thấp, ảnh hưởng lớn đến việc làm: Năm 2003, tỷ trọng gành dịch vụ chỉ chếm 31% GDP, nên rất khó tăng việc làm. Năm 2005, dự tính phải giảm bớt 1,15 triệu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,5%. 6- Tiếp tục phải đối mặt với tranh chấp thương mại ngày càng khó khăn hơn: Tính đến cuối tháng 10/2004, tổng cộng có 34 nước và vùng lãnh thổ tiến hành điều tra và khởi kiện 669 vụ đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, liên quan đến số tiền hơn 1,9 tỷ USD. Nguyên nhân là do hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc thiếu thương hiệu hàng hóa và ưu thế kỹ thuật, phương thức kinh doanh xuất khẩu coi trọng số lượng, coi nhẹ chất lượng, xuất khẩu quá tập trung, cơ cấu khu vực không hài hòa.v.v.. 7- Trở ngại thể chế cơ bản ràng buộc phát triển và cải cách: Thứ nhất, thể chế tiền tệ không thể đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Cơ cấu tổ chức và cơ chế kinh doanh của ngân hàng thương mại quốc doanh không hợp lý, nhiều uẩn khúc trong hành vi cho vay vốn; con đường đầu tư vốn của xí nghiệp nhỏ bị bó chặt, vay vốn rất khó khăn; mức độ hành chính hóa trong cơ chế quyết định lãi suất tương đối cao, giá trị nguồn vốn phản ứng chậm với biến đổi của cung cầu thị trường; cơ chế hối đoái cứng nhắc, cản trở điều chỉnh hợp lý mối quan hệ tỷ giá giữa biến động tỷ giá ngoại hối cung cầu thị trường và đồng NDT; Chế độ thị trường chứng khoán yếu ớt ngày càng lộ rõ, chất lượng cổ phiếu và công ty đăng ký thị trường chứng khoán chậm được giải quyết. Thứ hai, cơ chế phân phối đất đai thiếu quy phạm. Thứ ba, cải cách doanh nghiệp nhà nhà nước trì trệ, nhất là doanh nghiệp quy mô lớn. Thứ tư, chuyển biến chức năng của chính phủ vẫn rất khó khăn và chậm chạp, nhất là từ “chế độ quản lý kinh tế” chuyển sang “chức năng quản lý phục vụ”. 8- Tranh luận về điều tiết vĩ mô ngày càng gay gắt: Từ năm 2003 đến nay, có nhiều cách đánh giá về kinh tế Trung Quốc nóng toàn diện hay nóng cục bộ? cách đánh giá về kinh tế Trung Quốc “hạ cánh mềm” hay “hạ cánh cứng” cũng khác nhau. Trong đó, theo cách đánh giá lạc quan của UB Phát triển - Cải cách Nhà nước cho rằng, đầu tư tăng trưởng sẽ không ảnh hưởng đến tăng trưỏng kinh tế hoặc gây phản tác dụng đối với tăng trưởng kinh tế, tiêu dùng của cư dân và xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh và ổn định, chắc chắn kinh tế sẽ không “hạ cánh cứng”. Đối với những người tán đồng vận dụng kinh tế tổng hợp giữa thủ đoạn hành chính và pháp luật cho rằng, đầu tư quá nóng chủ yếu là do vấn đề cơ chế và thể chế, do đó sử dụng thủ đoạn hành chính “quản lý chặt đất đai và các khoản cho vay” là biện pháp hữu hiệu nhất. Nhưng những người phản đối lại cho rằng, sử dụng thủ đoạn hành chính không thể giải quyết được tận gốc, ngược lại càng làm cho chế độ và thể chế kinh tế thêm phức tạp. Qua tranh luận trong thời gian dài chứng tỏ, phát triển kinh tế thị trường, bất kể vận hành kinh tế hay điều tiết vĩ mô của chính phủ đều đòi hỏi yêu cầu đối với người điều tiết ngày càng cao. 9- Tranh luận về chu kỳ lãi suất mới: Cùng với đầu tư và vật giá tăng liên tục, Cục Dự trữ LB Mỹ tăng lãi suất đối với đồng Đô la Mỹ, Trung Quốc bắt đầu tranh luận gay gắt về chu kỳ lãi suất mới. Những người tán đồng cho rằng, trong điều tiết thị trường, nếu không phối hợp giữa thủ đoạn hóa thị trường với điều chỉnh vật giá, không chỉ độ khó sẽ lớn hơn, mà còn khó có thể điều tiết có hiệu quả. Về việc tăng lãi suất, đó là thay đổi thủ đoạn trong điều tiết vĩ mô của chính phủ. Tình hình kinh tế hiện nay vô cùng nóng bỏng, do đó Ngân hàng TW có thể bchọn lựa tăng lãi suất biện độ nhỏ trong năm 2004. Trung Quốc đang bước vào “chu kỳ nâng lãi suất mới”. Trong khi đó phái phản đối lại cho rằng, tác dụng của tăng lãi suất không lớn, trước mắt chưa phải thời cơ tăng lãi suất tốt nhất. Sử dụng thủ đoạn thị trường thuần túy để tiến hành điều tiết kinh tế vĩ mô hoàn toàn không thích hợp với tình hình kinh tế Trung Quốc hiện nay. Xét về lâu dài, kinh tế Trung Quốc vẫn phải dựa vào kích thích tiêu dùng để duy trì kinh tế phát triển ổn định, ngân hàng TW không thể sử dụng biện pháp tăng lãi suất để ngăn chặn lạm phát. 10- Tranh luận về phương hướng cải cách doanh nghiệp nhà nước: Trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, dẫn đến thất thoát lớn tài sản nhà nước, nhất là doanh nghiệp quy mô lớn. Do đó, xuất hiện hai trường phái trái ngược nhau về phương hướng cải cách “đa nguyên hóa sản quyền doanh nghiệp nhà nước”. Phái hoài nghi cho rằng, trong mấy năm tập trung cải cách gần đây, nhất là “cải cách chế độ” doanh nghiệp nhà nước, có một số ít người lợi dụng chiếm đoạt tài sản lớn của nhà nước. Chiếm đoạt thông qua phê duyệt, thậm chí cố ý chiếm đoạt, do đó nên lạp tức dừng lại. Phái ủng hộ cho rằng, không thể nghi ngờ về phương hướng cải cách “đa nguyên hóa sản quyền doanh nghiệp nhà nước”, vấn đề thất thoát tài sản nhà nước có thể khắc phục thông qua cải cách chi tiết cụ thể. 11- Về áp lực tăng giá đồng NDT: Từ năm 2003 đến nay, Mỹ, Nhật Bản và châu Âu liên tục gây sức ép đòi tăng giá đồng NDT. Đó cũng là khó khăn đối với Trung Quốc. Phái phản đối tăng giá đồng NDT cho rằng, không thể để tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT và Đô la Mỹ trên danh nghĩa, trọng điểm là phải chú ý đến tỷ giá thực tế. Nguyên nhân Mỹ thâm thủng mậu dịch là do mất cân bằng kinh tế vĩ mô trong nước, chư không phải do đồng NDT mất giá. Phái tán đồng tăng giá đồng NDT ch rằng, gia tăng nhập khẩu và giảm bớt thâm thủng mậu dịch của Mỹ đối với Trung Quốc là con đường hợp lý giảm bớt áp lực tăng giá đồng NDT, về lâu dài phải từng bước thị trường hóa tỷ giá hối đoái đồng NDT, đó là cách tốt nhất để nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc. Theo cam kết khi gia nhập WTO, Trung Quốc phải từng bước thị trường hóa đồng NDT. Tuy nhiên, không đưa ra thời gian biểu cụ thể, nên Trung Quốc cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước để xác định tiến trình thị trường hóa tỷ giá hối đoái đồng NDT. 12- Tranh luận về “bong bóng” trong thị trường bất động sản: Nguyên nhân là do ngành bất động sản là ngành trụ cột đóng góp rất lớn đối với GDP. Nếu ngành bất động sản tồn tại “bong bóng” sẽ tạo ra nguy cơ phá hoại chính sách tiền tệ rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tổng thể nền kinh tế. |
| Copyright by © 2005 Vietnam Ministry of Foreign Affairs - Office in HCM City Email: Banbientap@mofahcm.gov.vn |