Trang chủ Phản hồi Ngôn ngữ


 
Công cụ làm việc cá nhân

Tổng quan về Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng, có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Tình cảm hữu nghị giữa hai nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng nhiều thế hệ lãnh đạo tiền bối của hai Đảng, hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản quý báu của hai dân tộc. Quan hệ giữa hai nước tuy có trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị là dòng chảy chính. Sau khi bình thường hoá quan hệ năm 1991, quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực. Lãnh đạo cấp cao hai bên thường xuyên tiếp xúc, trao đổi và củng cố khuôn khổ quan hệ hai nước theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và nhất trí cùng nhau trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trên tinh thần đó, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện năm 2008 để mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt –Trung, nhằm đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước cũng như vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Việt Nam và Trung Quốc đã thiết lập nhiều cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước và giữa các bộ, ngành, tổ chức chính trị xã hội, địa phương. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và luôn mong muốn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững.

          Về quan hệ chính trị, hai nước đã ký nhiều hiệp định và văn kiện hợp tác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên thường xuyên trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là trao đổi đoàn cấp cao, góp phần tăng cường sự hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai nước. Năm 2015 là năm hai nước kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đồng thời là dịp để hai bên cùng nhìn lại chặng đường đã qua và hướng tới một chặng đường mới cho quan hệ hai nước. Năm 2015 cũng là năm hết sức thành công trong việc trao đổi chuyến thăm cấp nhà nước của lãnh đạo cấp cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm Trung Quốc (4/2015) và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thăm Việt Nam (11/2015).

Hai bên đã tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 9 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt - Trung (6/2016) với nhiều kết quả cụ thể. Hai nước cũng đã tổ chức thành công Cuộc gặp biên giới cấp Bộ trưởng quốc phòng lần thứ 3 (28-31/3/2016) và Đối thoại an ninh cấp Thứ trưởng lần thứ nhất, đạt nhiều nhận thức chung quan trọng về xây dựng đường biên giới hai nước hoà bình, ổn định. Quan hệ giữa các địa phương được tăng cường với nhiều hình thức và thiết thực. Hai bên đã tiến hành nhiều phiên họp của các cơ chế hợp tác giữa các địa phương biên giới Việt Nam và Trung Quốc như Ủy ban công tác liên hợp giữa 04 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc), Nhóm công tác liên hợp giữa 04 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), Hội nghị kiểm điểm tình hình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương Việt Nam với tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), Hội nghị hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

       Về quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư, từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Năm 2015, theo số liệu của Việt Nam, kim ngạch song phương đạt 66,67 tỷ USD (theo số liệu của TQ đạt 95,8 tỷ USD). Trong 12 năm qua, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam. Việt Nam cũng là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Trung Quốc trong khu vực ASEAN. Hai nước phấn đấu thực hiện mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ USD vào năm 2017. Quan hệ hợp tác đầu tư có bước phát triển mới, tính đến hết tháng 2/2016, Trung Quốc có 1346 dự án đầu tư tại Việt Nam, tổng vốn đăng ký đạt 10,4 tỷ USD, đứng thứ 9 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam.

  Về quan hệ hợp tác giáo dục, văn hoá, thể thao và du lịch, hiện có khoảng 10 nghìn lưu học sinh Việt Nam đang học tại các trường đại học của Trung Quốc với những ngành nghề đa dạng và có khoảng gần 3.000 học sinh Trung Quốc đang du học tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các ngành ngôn ngữ, du lịch và kinh doanh. Hai bên đang tích cực triển khai “Kế hoạch thực hiện Hiệp định văn hóa Việt - Trung giai đoạn 2016 - 2018”. Hàng năm, hai bên trao đổi nhiều đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, thể thao, góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Hai bên cũng đã triển khai thực hiện hiệu quả “Thoả thuận về hợp tác Thể dục thể thao”, theo đó, Trung Quốc giúp Việt Nam huấn luyện và đào tạo vận động viên cho những đấu trường lớn. Năm 2015 có 1.8 triệu lượt khách Trung Quốc đi du lịch VN và 1.5 triệu lượt khách Việt Nam đi du lịch Trung Quốc.

Giao lưu nhân dân và thế hệ trẻ hai nước được quan tâm. Hai bên đã tổ chức thành công Liên hoan Thanh niên Việt Nam - Trung Quốc tại Quảng Tây với quy mô hàng vạn người, Liên hoan hữu nghị nhân dân biên giới Việt - Trung (11/2010), Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt Nam - Trung Quốc (11/2012), Diễn đàn nhân dân Việt - Trung, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt - Trung.

Về vấn đề biên giới, lãnh thổ, hai nước đã giải quyết thành công hai trong ba vấn đề do lịch sử để lại hết sức phức tạp trong quan hệ hai nước, đó là hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ: hai bên đã ký Hiệp định về biên giới trên đất liền (1999); Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (2000); Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ (2000); Nghị định thư hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ (2004). Trước đó năm 1993, hai bên đã ký Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ.

        Về biên giới trên bộ: Ngày 31/12/2008, hai bên đã hoàn thành công tác phân giới cắm mốc đúng thời hạn Lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận. Hai bên đã công bố Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu có hiệu lực từ 14/7/2010. Tháng 11/2015, hai bên đã ký kết “Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc“.

        Về Vịnh Bắc Bộ: hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ được triển khai tương đối thuận lợi, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi dần đi vào nề nếp, hạn chế tối đa các xung đột có thể nảy sinh. Hai bên thỏa thuận tiếp tục thực hiện tốt hai Hiệp định này, cũng như thực hiện tốt công tác kiểm tra liên hợp, điều tra liên hợp nguồn thủy sản trong Vùng đánh cá chung và tuần tra chung giữa hải quân hai nước ở Vịnh Bắc Bộ, đẩy nhanh việc thực hiện “Thỏa thuận khung về hợp tác dầu khí trong vùng thỏa thuận tại Vịnh Bắc Bộ”.

Về vấn đề biển Đông, là vấn đề khác biệt lớn nhất trong quan hệ hai nước, đòi hỏi cả hai bên cùng phải nỗ lực kiên trì tháo gỡ khó khăn. Lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhiều lần trao đổi về vấn đề Biển Đông. Những diễn biến gần đây trên Biển Đông càng cho thấy sự cần thiết phải giải quyết vấn đề bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là. Năm 2011, hai bên đã ký kết Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, góp phần định hướng cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông; theo đó, hai bên cần kiên trì giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Hai bên đã thành lập cơ chế đàm phán cấp chuyên viên về khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và cơ chế đàm phán cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển; đã thống nhất kế hoạch triển khai 2 dự án cụ thể là (i) Hợp tác trao đổi, nghiên cứu về quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam-Trung Quốc; (ii) Nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Hôlôxen khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang. Tháng 12/2015, hai bên đã khởi động khảo sát chung tại khu vực thoả thuận vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ tại TP Đà Nẵng và TP Quảng Châu (TQ).

Trong thời gian tới, hai bên cần thực hiện có hiệu quả nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”, thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ DOC và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), góp phần thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh cũng như bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông và khu vực./.

Tháng 9 năm 2016

Tạo bởi thanhdm
Cập nhật 10-09-2016

Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs