QUAN HỆ VIỆT - TRUNG
1. Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đến nay, hai nước đã ký 54 hiệp định và 59 văn kiện hợp tác khác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và hành khách giữa hai nước. Trao đổi đoàn ở trung ương và địa phương ngày càng tăng, hàng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng, góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai nước.
Phía Việt Nam đã lập Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu (1993), Hongkong (1994). Tháng 5/2004, ta mở thêm hai Tổng lãnh sự quán tại Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây), Trung Quốc. Phía Trung Quốc lập Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh (1993).
Các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì đều đặn hàng năm. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hoá phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên cũng đã thoả thuận đưa hai nước trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trong chuyến thăm Việt Nam của Uỷ viên Quốc vụ viện Trung Quốc Đường Gia Triền (tháng 11/2006), hai bên đã ký Bản ghi nhớ tuyên bố thành lập Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc nhằm phát huy vai trò điều phối vĩ mô đối với tổng thể quan hệ hai nước, đưa sự hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn.
Trong năm 2007, đã diễn ra các chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (5/2007), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (4/2007); Uỷ viên BCT, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (6/2007); về quan hệ giữa hai Đảng, đã có các chuyến thăm Trung Quốc của Uỷ viên BCT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt (3/2007); Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương Tô Huy Rứa (7/2007) và Uỷ viên BCT, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang (9/2007); hai bên đã tổ chức hội thảo lý luận tại Trung Quốc và đang xúc tiến việc Trung Quốc giúp đào tạo cán bộ lý luận cho ta như Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã hứa.
Quan hệ hợp tác giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, quốc phòng, an ninh của hai nước được tăng cường thêm một bước với việc ký các thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003). Trong năm 2007, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã thăm Trung Quốc (3/2007) và có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì dịp dự khóa 62 Đại Hội đồng Liên hợp quốc (9/2007); Bộ trưởng Bộ Tình báo Trung Quốc và Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc Lương Quang Liệt thăm ta (vào tháng 4/2007 và 6/2007). Trong chuyến thăm Trung Quốc của Uỷ viên BCT, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh (8/2007) hai bên đã ký Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa hai nước.
Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước được tổ chức thường xuyên với nội dung phong phú, thiết thực. Cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam – Trung Quốc” lần thứ 8 với chủ đề “Giới thiệu tiềm năng du lịch Việt Nam” được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10 năm nay.
Quan hệ giữa các tỉnh biên giới của hai nước cũng được tăng cường mạnh mẽ. Nhiều lãnh đạo của Quảng Tây và Vân Nam đã sang thăm Việt Nam (gần đây nhất là đoàn Bí thư Quảng Tây Lưu Kỳ Bảo tháng 5/2007 và đoàn tỉnh trưởng Vân Nam Tần Quang Vinh cũng thăm Việt Nam 4/2007), trao đổi về việc đẩy mạnh hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch v.v... giữa hai bên. Lãnh đạo ta cũng nhiều lần ghé thăm hai tỉnh này: gần đây là chuyến thăm Quảng Tây của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 8/2006; chuyến thăm Quảng Tây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 10/2006 dịp dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm Trung Quốc-ASEAN tại Nam Ninh, Quảng Tây; chuyến thăm Quảng Tây của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tháng 4/2007; trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 5/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thăm tỉnh Vân Nam. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ dự Hội chợ Trung Quốc – ASEAN (CAEXPO) lần thứ 4 tại Nam Ninh, kết hợp thăm Khu tự trị Quảng Tây và tỉnh Vân Nam vào cuối tháng 10/2007.
Tháng 6/2007, Quảng Tây đã ký với 3 tỉnh của ta (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) và Vân Nam cũng đã ký với 4 tỉnh của ta (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên) Thỏa thuận về việc lập Nhóm công tác liên hợp theo gợi ý của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
2. Quan hệ kinh tế thương mại có bước đột phá. Hiện nay Trung Quốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2006, tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều đạt 10, 42 tỷ, vượt trước thời hạn mục tiêu 10 tỷ USD đề ra cho năm 2010. Tính đến hết tháng 8/2007, tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều là 9,46 tỷ USD (trong đó ta nhập khẩu là 7,35 tỷ USD, xuất khẩu 2,11 tỷ USD), tăng 47,7%, nhập siêu 5,25 tỷ USD, tăng 106,1%.
Tuy nhiên, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt-Trung chỉ chiếm khoảng 0,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc trong khi chiếm hơn 12% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam; đáng chú ý là từ năm 2001 đến nay, Việt Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc với mức độ tăng rõ rệt. Lãnh đạo hai bên đã trao đổi các biện pháp tăng kim ngạch song phương đi đôi với giảm dần mức nhập siêu của ta. Phía Trung Quốc bày tỏ coi trọng vấn đề mất cân bằng mậu dịch, mở rộng đầu tư ở Việt Nam để tăng xuất khẩu sang Trung Quốc.
Tính đến 22/09/2007, Trung Quốc có 49 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt 1,523 tỷ USD, đứng thứ 15/78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong tổng số vốn đăng ký 1,523 tỷ USD, vốn thực hiện thấp, chỉ đạt 236,3 triệu USD, chiếm 20% vốn đăng ký.
Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào tháng 11/2006, hai bên đã ký Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế thương mại và Bản ghi nhớ về “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”. Hiện hai bên đã lập Nhóm công tác triển khai Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế thương mại và đang trao đổi để thành lập các Nhóm công tác để triển khai hai thoả thuận về “Hai hành lang một vành đai kinh tế.”
Trong những năm qua, Trung Quốc đã không ngừng tăng qui mô tín dụng ưu đãi dành cho Việt Nam. Những lĩnh vực được phía Trung Quốc ưu tiên cung cấp tín dụng là công nghiệp nặng, khai thác khoáng sản, đường sắt, năng lượng, dệt may, hóa chất, cơ sở hạ tầng. Hiện hai bên đang triển khai một số dự án hợp tác kinh tế lớn như Dự án xây dựng nhà máy khai thác và tuyển luyện đồng tại Sinh Quyền; Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh I, II; Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng I, II; Dự án thông tin tín hiệu đường sắt các tuyến Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội –Thái Nguyên, Hà Nội – Lào Cai và khu đầu mối Hà Nội; Dự án hiện đại hoá hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh - thành phố Hồ Chí Minh v.v…Hai bên cũng đang trao đổi về các dự án hợp tác khác như Dự án Nhà máy sản xuất phân đạm từ than cám Ninh Bình; Dự án viễn thông nông thôn; Dự án đường sắt đô thị tuyến Hà Nội-Hà Đông. Ngoài tín dụng ưu đãi, Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam nhiều khoản viện trợ không hoàn lại dùng vào việc tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc; trao đổi thanh thiếu niên; đầu tư trang thiết bị cho một số bệnh viện tại Việt Nam; xây dựng khu nhà ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Cung Hữu nghị Việt – Trung…
3. Sau khi bình thường hoá quan hệ, năm 1993, hai bên đã ký Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ và các cuộc đàm phán về 3 vấn đề biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên biển (Biển Đông) chính thức bắt đầu.
Về biên giới trên bộ: Ngày 30/12/1999, hai bên ký Hiệp ước biên giới trên đất liền. Nhìn chung, tình hình quản lý biên giới trên đất liền ổn định. Hai bên đều thể hiện quyết tâm hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc và ký Nghị định thư biên giới trong năm 2008. Sau vòng XIII cấp Chính phủ (tháng 01/2007), hai Bên đã thống nhất biện pháp “cả gói” giải quyết các khu vực còn lại trong phân giới cắm mốc, do đó công tác phân giới cắm mốc đã có những tiến triển, hai Bên đã giải quyết được nhiều khu vực tồn đọng. Kết quả phân giới cắm mốc từ khi triển khai đến ngày 20/9/2007 đã phân giới được 1000/1406 km đường biên giới (70%); xác định được 1280/1539 vị trí mốc chính (83%), 235 mốc phụ, cắm được 1197 cột mốc (Việt Nam 590, Trung Quốc 607).
Về phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá tại Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, hai bên ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Sau 3 năm đàm phán, Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ đã được ký kết ngày 29/4/2004; hai Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ bắt đầu hiệu lực từ ngày 30/6/2004.
Tình hình ở Vịnh Bắc Bộ về cơ bản ổn định; hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ được triển khai tương đối hiệu quả, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi dần đi vào nề nếp, hạn chế tối đa các xung đột có thể nảy sinh; công ty dầu khí quốc gia hai nước đã ký Thoả thuận thăm dò chung trong khu vực thoả thuận ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ tháng 11/2006; công tác kiểm tra, kiểm soát vi phạm trong Vịnh Bắc Bộ đã được lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và lực lượng Kiểm ngư Trung Quốc tiến hành trong tháng 9/2006, lực lượng hải quân hai nước cũng đã tiến hành tuần tra chung 2 lần trên Vịnh Bắc Bộ.
Hai bên cũng đã tiến hành được 3 vòng đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Đối với vấn đề biển Đông, hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hoà bình để giải quyết. Đến nay, hai bên đã tiến hành 12 vòng đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề trên biển, tăng thêm hiểu biết về lập trường của nhau. Giữa ASEAN và Trung Quốc cũng đã ký Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC), hiện đang trong quá trình trao đổi để đi vào triển khai, tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC). Ngày 14/3/2005, ba công ty dầu khí 3 nước Việt Nam (PetroVietnam), Trung Quốc (CNOOC), Phi-lip-pin (PNOC) đã ký được Thoả thuận về khảo sát địa chấn chung trong một số khu vực trên biển Đông và đang được triển khai thuận lợi.
4. Trong những năm qua, quan hệ trao đổi, hợp tác giữa ta với Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá - thể thao được đẩy mạnh. Hàng năm, Trung Quốc tiếp nhận một số lượng đáng kể các học sinh, thực tập sinh và các đoàn thể thao của ta sang nghiên cứu, học tập và tập huấn tại Trung Quốc, đồng thời cử nhiều cán bộ, huấn luyện viên sang giúp ta trong công tác huấn luyện các môn thể thao. Hai bên trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, thể thao, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Các địa phương của hai bên cũng tăng cường quan hệ hợp tác trực tiếp với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực (trao đổi đoàn khảo sát, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm...), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt là giữa 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc và các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam.
Tiềm năng phát triển của mối quan hệ Việt - Trung là rất lớn, với sự cố gắng chung của cả hai bên, mối quan hệ đó sẽ không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp hơn trong thế kỷ 21, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới./.
Ngày 22 tháng 10 năm 2007
Cập nhật 04-03-2008

